Cục quản lý thực phẩm và thuốc Hoa Kỳ (FDA) đã chấp nhận vắc xin kết hợp lục giá ba liều VAXELIS được tiêm cho trẻ 6 tuần tới 4 tuổi. Vắc xin này được Sanofi à Merck sản xuất thành công và tạo miễn dịch chủ động chống lại bạch hàu, uốn ván, ho gà, bại liệt, viêm gan siêu vi B và influenza týp B.
Điểm báo
Sốt rét được biết là có tác động bất lợi đến thai nhi khi các bà mẹ mang thai bị nhiễm trùng. Các nhà nghiên cứu tìm thấy nhiễm trùng sốt rét có thể cản trở sự phát triển mạch máu ở nhau thai; so với nhóm chứng, nhau thai của phụ nữ Tanzania bị nhiễm sốt rét trước tuổi thai 15 tuần có mao mạch nhỏ hơn, khoảng cách khuếch tán lớn hơn trong các động mạch và tăng bù trên bề mặt động mạch khuếch tán. Bề mặt động mạch khuếch tán và chiều dài của mạch máu là những yếu tố dự báo tích cực về cân nặng và tuổi thai khi sinh.
Nguồn: https://academic.oup.com/jid/advance-article/doi/10.1093/infdis/jiy735/5262366
Từ 04/2014 tới 05/2016, 66 trẻ sơ sinh từ 23 tháng tuổi trở xuống từ một trong tám đơn vị chăm sóc sơ sinh tích cực (NICU) tại Hoa Kỳ ngẫu nhiên được chọn dùng thuốc mỡ muripocin 5 ngày điều trị Staphylococcus aureus và dự phòng nhiễm khuẩn lâm sàng; 64 trẻ sơ sinh tại các NICUs tương tự nhưng không được điều trị bằng mupirocin được chọn làm nhóm chứng. Tác dụng đầu tiên trong ngày thứ 8 xuất hiện ở 93,9% số trẻ sơ sinh được điều trị bằng mupirocin so với 4,7% trẻ ở nhóm chứng. Tác dụng duy trì ở ngày 22 hiện diện trên 45,7% nhóm điều trị so với 2,1% nhóm chứng. Theo các nhà nghiên cứu, mupirocin dung nạp tốt nhưng thường gây phát ban nhẹ ở nhóm điều trị so với nhóm chứng.
Tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) báo cáo trong giai đoạn 26/11 và 9/12/2018, hoạt động của cúm nhìn chung tăng nhưng vẫn ở mức thấp tại Bắc bán cầu. Hoạt động của cúm cũng tăng ở Nam và Đông Nam Á. Trên thế giới có hơn 10.000 mẫu xét nghiệm dương tính với cúm, 94,8% những mẫu xét nghiệm được là týp A. H1N1 chiếm 84,1% trong số cúm A được phát hiện.
Nguồn: https://www.who.int/influenza/surveillance_monitoring/updates/latest_update_GIP_surveillance/en
Tiêu thụ kháng sinh ở 235 trang trại bò sữa thuộc Pennsylvania đạt 24.444 liều xác định ngày – động vật (ADD) và 19.029 ngày điều trị (DOT) tương ứng với tỷ suất mới điều trị 4.2 ADD và 3.3 DOT trên 1.000 động vật – ngày, theo một phân tích các dữ liệu từ báo cáo. Kháng sinh được dùng phổ biến để điều trị viêm vú. Cephalosporins thế hệ một được dùng phổ biến nhất, tiếp đến là penicillin và cephalosporin thế hệ 3.
Nguồn: https://www.journalofdairyscience.org/article/S0022-0302(18)31128-7/fulltext
Chụp hình não của 115 đứa trẻ 12 tới 18 tháng tuổi phơi nhiễm virus Zia trong tử cung cho kết quả bất thường trên 34% số trẻ. 12% trẻ có kết quả bất thường thính lực và 6% bất thường thị lực. 94 trẻ được chụp hình thần kinh được đánh giá thêm chức năng nhận thức, ngôn ngữ và vận động bằng công cụ Bayley Scales of Infant and Toddler Development, cho kết quả 55 tới 145 điểm, điểm thấp cho thấy mức độ chậm phát triển nhiều hơn. Trong số những trẻ có hình ảnh não bất thường, 16% có điểm Bayley độ III nghĩa là trên 85, 12% có điểm từ 85 tới 71 và 10% có điểm dưới 70 ở một hoặc nhiều chức năng được đánh giá.
Bốn khuyến cáo được xây dựng bởi chương trình an toàn chất lượng và nghiên cứu chăm sóc sức khỏe của cơ quan Hoa Kỳ (AHRQ) để sử dụng kháng sinh tốt hơn, giúp ra các quyết định lâm sàng về kê toa và quản lý kháng sinh. Trong các đơn vị chăm sóc tích cực, các khuyến cáo này có thể được đưa vào thực hành lâm sàng hằng ngày. Khuyến cáo một khuyến khích các cơ sở y tế xem xét các nguyên nhân không nhiễm khuẩn có dấu hiệu sống bất thường trước khi kê toa kháng sinh. Khuyến cáo hai yêu cầu các nhà lâm sàng có kết quả cấy cần thiết để kê toa kháng sinh thích hợp. Khuyến cao ba và bốn nhắc các cơ sở y tế giám sát tác động của khánh sinh và xem xét rút ngắn thời gian điều trị kháng sinh.
Nguồn: https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2719862