Điểm báo

Chủ nhật, 31 Tháng 7 2016 16:32

Giảm thời gian sử dụng kháng sinh không cần thiết làm giảm 27% kháng sinh sử dụng trong đơn vị chăm sóc tích cực sơ sinh mà không ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ, theo một nghiên cứu vừa được đăng trên tạp chí bệnh nhiễm trùng của Lancet. Bênh viện yêu cầu bác sĩ tự kê đơn  để mở rộng điều trị nếu cần, sau khi tự động rút ngắn thời gian điều trị kháng sinh cho viêm phổi và nhiễm trùng huyết có kết quả cấy âm tính xuống còn 5 ngày. Sử dụng kháng sinh giảm 27% còn 70,9 ngày điều trị/1.000 bệnh nhân-ngày mà không ảnh hưởng đến sự an toàn của trẻ, mặc dù có sự gia tăng số ngày nằm viện từ 7 lên 8 ngày.

http://cddep.us9.list-manage.com/track/click?u=92694f5141b01b84fbf5493c4&id=38239af35b&e=2b9bf1489c

Chủ nhật, 31 Tháng 7 2016 16:05

Một bài báo đăng trên tạp chí Hiệp Hội Hoàng Gia (Journal of the Royal Society Interface) cho rằng sử dụng≥ 3 loại kháng sinh có thể vượt quá kháng thuốc, dù từng loại đơn lẻ có thể không hiệu quả. Nghiên cứu in-vitro chủng Escherichia coli với 1, 2, hoặc 3 loại kháng sinh khác nhau trong số 14 loại kháng sinh. Trong nhiều trường hợp, thêm một loại kháng sinh thứ 3 làm tăng hiệu quả một cách đáng kể. Ngoài việc sử dụng tốt các thuốc hiện có và sử dụng liều kháng sinh thấp hơn là lợi ích của phương pháp này. Van Savage, một trong số các tác giả cho rằng “mọi người nghĩ rằng bạn không cần hiểu về tương tác thuốc giữa các nhóm. Chúng tôi tìm thấy không phải lúc nào cũng như vậy.”

http://rsif.royalsocietypublishing.org/content/13/119/20160332

Chủ nhật, 31 Tháng 7 2016 15:57

Hiệp Hội Bệnh Truyền Nhiễm Hoa Kỳ và Hội Lồng Ngực Hoa Kỳ đề xuất giảm quá trình điều trị kháng sinh cho người lớn bị nhiễm khuẩn bệnh viện: viêm phổi liên quan tới thở máy và viêm phổi bệnh viện trong hướng dẫn điều trị mới. Những loại nhiễm khuẩn này chiếm 20-25% trong tổng số các trường hợp nhiễm khuẩn bệnh viện và gây ra 10-15% các trường hợp tử vong. Giảm quá trình điều trị kháng sinh sẽ giảm chi phí và nguy cơ kháng thuốc, trong khi vẫn duy trì hiệu quả điều trị. Hướng dẫn điều trị mới này cũng đề xuất bệnh viện nên dùng kháng sinh đồ để xác định điều trị phù hợp.

http://cid.oxfordjournals.org/content/early/2016/07/06/cid.ciw353.full.pdf+html

Chủ nhật, 31 Tháng 7 2016 15:49

Một nhóm những nhà nghiên cứu của Brazil;s Oswaldo Cruz Foundation cho rằng ngoài Aedes aegypti và albopictus, virus Zika còn được tìm thấy ở muỗi Culex. Muỗi Culex mang virus Zika được tìm thấy tại Recife, phía Đông Bắc của Brazil, nơi mật độ muỗi Culex nhiều gấp 20 lần muỗi Aedes aegypti. Muỗi Culex có thể truyền virus hay không thì chưa thể xác định. TS. Raman Velayudhan, đội phản ứng Zika của tổ chức sức khỏe thế giới (WHO) cho rằng “chúng ta cần biết tỷ suất nhiễm của muỗi Culex bắt được trong tự nhiên so với Aedes. Các nghiên cứu ở những quốc gia bị ảnh hưởng khác xác nhận chỉ có Aedes truyền virus. Khi chúng ta nghiên cứu nhiều hơn, các can thiệp, đề xuất và đánh giá nguy cơ sẽ phát triển theo kiến thức mới”.

https://www.washingtonpost.com/world/the_americas/zika-is-found-in-common-culex-mosquitos-signaling-a-potentially-larger-risk/2016/07/21/e1b37e0e-4f6f-11e6-bf27-405106836f96_story.html

 

Thứ năm, 28 Tháng 7 2016 11:23

Carbapenems, penicillins, quinolones, macrolides and ketolides và cephalosporins thế hệ mới nhất là những loại kháng sinh mà các chuyên gia của WHO cho rằng “rất quan trọng” trong danh mục thuốc của nhân loại và cần được giới hạn sử dụng trong chăn nuôi để đối phó với sự kháng thuốc.

Việc sử dụng các loại kháng sinh trên quy mô lớn như fluoroquinolones, macrolides, cephalosporins thế hệ ba, glycopeptides và carbapenems cần phải được hạn chế ngay.

Danh mục các thuốc kháng sinh quan trọng với sức khỏe con người là aminoglycosides, ansamycins, carbapenems và các kháng sinh penems khác, cephalosporins thế hệ ba và bốn, phosphonic acid derivatives, glycopeptides, glycylcyclines, lipopeptides, macrolides và ketolides, monobactams, oxazolidinones, penicillins (gồm tự nhiên, aminopenicillins, và kháng sinh kháng pseudomonas), polymyxins, quinolones và những loại thuốc được dùng để điều trị lao và các bệnh gây ra do mycobacteria.

Phosphonic acid derivatives, monobactams, and polymyxins mới được bổ sung vào danh mục vì chúng rất quan trọng trong việc điều trị các vi khuẩn gram âm đa kháng thuốc. ngược lại stretogramins được đưa vào danh mục “tối quan trọng” vì chúng rất hiệu quả trong điều trị vi khuẩn gram dương, để lại ít tác dụng phụ hơn.

Nguồn: http://cid.oxfordjournals.org/content/early/2016/07/20/cid.ciw475.short

Thứ năm, 28 Tháng 7 2016 11:13

Bệnh nhân sốt Mò nếu bị chẩn đoán sai là sốt Thương hàn sẽ được điều trị bằng ceftriaxone, điều trị sai. Hàng trăm người đã chết không cần thiết. Doxycycline là thuốc điều trị hiệu quả, rẻ tiền và sẵn có ở Nepal nhưng không được sử dụng. Sốt thương hàn và sốt Mò không thể phân biệt trên lâm sàng, do đó cần có các test chẩn đoán nhanh để xác định các nguyên nhân gây sốt nghiêm trọng.

Dịch bệnh sốt phát ban tại Nepal có thể nguy hiểm vì gây ra nhiều ca tử vong. Chẩn đoán bệnh chính xác rất quan trọng vì các thuốc được dùng phổ biến (tiêm ceftrixone) để điều trị các trường hợp không được chẩn đoán xác định dường như không mang lại hiệu quả mong muốn trong điều trị sốt Mò (scrub typhus là bệnh cấp tính gây ra do chủng Rickettsia, một dạng vi sinh vật trung gian giữa vi khuẩn và virus) và các loại sốt phổ biến không xác định được nguyên nhân khác, ngoại trừ thương hàn. Doxycycline là loại thuốc được chọn để điều trị sốt Mò nhưng không được dùng phổ biến tại Nepal. Flouroquinolones được chứng mình là có hiệu quả trong điều trị sốt Mò; tuy nhiên, sử dụng fluoroquinolones điều trị các bệnh sốt không xác định được nguyên nhân (đặc biệt nếu sốt do chủng H 58 S typhi, gây sốt thương hàn ở Nam Á) còn nhiều tranh cãi. Do đó, nếu không có các test chẩn đoán nhanh trước khi bắt đầu điều trị, việc chẩn đoán xác định những trường hợp sốt không xác định được nguyên nhân gặp nhiều khó khăn vì bệnh nhân có thể bị sốt thương hàn, sốt Mò, hoặc các nguyên nhân khác. Do đó, nếu dùng fluoroquinolones để điều trị bệnh nhân sốt không xác định được nguyên nhân ở Nam Á là không hợp lý.

Nguồn: http://www.thelancet.com/journals/langlo/article/PIIS2214-109X(16)30094-8/fulltext

Thứ năm, 28 Tháng 7 2016 11:13

Bệnh nhân sốt Mò nếu bị chẩn đoán sai là sốt Thương hàn sẽ được điều trị bằng ceftriaxone, điều trị sai. Hàng trăm người đã chết không cần thiết. Doxycycline là thuốc điều trị hiệu quả, rẻ tiền và sẵn có ở Nepal nhưng không được sử dụng. Sốt thương hàn và sốt Mò không thể phân biệt trên lâm sàng, do đó cần có các test chẩn đoán nhanh để xác định các nguyên nhân gây sốt nghiêm trọng.

Dịch bệnh sốt phát ban tại Nepal có thể nguy hiểm vì gây ra nhiều ca tử vong. Chẩn đoán bệnh chính xác rất quan trọng vì các thuốc được dùng phổ biến (tiêm ceftrixone) để điều trị các trường hợp không được chẩn đoán xác định dường như không mang lại hiệu quả mong muốn trong điều trị sốt Mò (scrub typhus là bệnh cấp tính gây ra do chủng Rickettsia, một dạng vi sinh vật trung gian giữa vi khuẩn và virus) và các loại sốt phổ biến không xác định được nguyên nhân khác, ngoại trừ thương hàn. Doxycycline là loại thuốc được chọn để điều trị sốt Mò nhưng không được dùng phổ biến tại Nepal. Flouroquinolones được chứng mình là có hiệu quả trong điều trị sốt Mò; tuy nhiên, sử dụng fluoroquinolones điều trị các bệnh sốt không xác định được nguyên nhân (đặc biệt nếu sốt do chủng H 58 S typhi, gây sốt thương hàn ở Nam Á) còn nhiều tranh cãi. Do đó, nếu không có các test chẩn đoán nhanh trước khi bắt đầu điều trị, việc chẩn đoán xác định những trường hợp sốt không xác định được nguyên nhân gặp nhiều khó khăn vì bệnh nhân có thể bị sốt thương hàn, sốt Mò, hoặc các nguyên nhân khác. Do đó, nếu dùng fluoroquinolones để điều trị bệnh nhân sốt không xác định được nguyên nhân ở Nam Á là không hợp lý.

Nguồn: http://www.thelancet.com/journals/langlo/article/PIIS2214-109X(16)30094-8/fulltext

Trang